Chương VII. Tiếng gọi vang lên (Phần 2)

25/04/2026 10:55 0 lượt xem

Chúng dừng lại bên một dòng suối đang chảy để uống, và khi dừng lại, Buck nhớ tới John Thornton. Nó ngồi phịch xuống. Con sói hoang đi tiếp về phía nơi tiếng gọi chắc chắn đang vang từ đó, rồi quay lại bên nó, ngửi mũi và làm những cử chỉ như để thúc nó cùng đi. Nhưng Buck quay người lại và bắt đầu chầm chậm đi ngược đường cũ. Suốt hơn một giờ đồng hồ, người anh em hoang dã ấy chạy bên cạnh nó, khẽ rên rỉ. Rồi nó ngồi xuống, ngẩng mũi lên trời và tru. Đó là một tiếng tru buồn bã, và trong khi Buck cứ tiếp tục đi, nó nghe tiếng tru ấy nhạt dần, nhạt dần, cho tới khi mất hẳn trong xa xăm.

John Thornton đang ăn tối thì Buck lao thẳng vào trại và phóng bổ lên ông trong cơn mê cuồng vì yêu thương, hất ông ngã nhào, trèo chồm lên người ông, liếm mặt ông, cắn tay ông — “trò khùng điên tầm thường cả bầy,” như John Thornton gọi nó, trong lúc ông lắc Buck qua lại và chửi nó bằng những lời chửi đầy thương yêu.

Suốt hai ngày hai đêm, Buck không rời trại, không để Thornton khuất khỏi tầm mắt. Nó đi theo ông trong lúc làm việc, nhìn ông ăn, nhìn ông chui vào chăn lúc đêm xuống và bước ra khỏi chăn vào buổi sáng. Nhưng sau hai ngày, tiếng gọi trong rừng bắt đầu vang lên còn đinh tai hơn trước. Sự bồn chồn của Buck lại quay trở lại, và nó bị ám bởi ký ức về người anh em hoang dã, về miền đất mỉm cười bên kia đèo và về cuộc chạy song song qua những khoảng rừng rộng lớn. Một lần nữa nó lại lang thang trong rừng, nhưng người anh em hoang dã không còn tới nữa; và dù nó lắng nghe suốt bao đêm canh thức, tiếng tru buồn bã ấy không bao giờ cất lên nữa.

Nó bắt đầu ngủ ngoài trời ban đêm, có khi rời trại suốt mấy ngày liền. Và một lần nó vượt qua đèo ở đầu con suối rồi xuống miền đất có rừng và suối. Ở đó nó lang thang suốt một tuần, tìm kiếm vô vọng dấu vết mới của người anh em hoang dã, giết mồi trong lúc đi đường và đi với bước lướt dài, dễ dàng dường như chẳng bao giờ biết mệt. Nó câu cá hồi trong một dòng rộng đổ ra đâu đó hướng biển, và bên con suối ấy nó giết một con gấu đen lớn, bị muỗi làm cho mù lòa trong lúc cũng đang câu cá, rồi lao đi giữa rừng trong cơn cuồng nộ vừa bất lực vừa đáng sợ. Dù vậy, đó vẫn là một trận đánh gian khổ, và nó đã khơi dậy những mảnh tàn bạo cuối cùng còn ngủ sâu trong Buck. Hai ngày sau, khi nó quay lại chỗ giết mồi và thấy cả chục con sói sói đang tranh cãi trên chiến lợi phẩm, nó hất chúng ra như rơm; và những con bỏ chạy đã để lại hai con phía sau, sẽ chẳng còn tranh cãi gì nữa.

Cơn thèm máu mạnh hơn bao giờ hết. Nó là kẻ giết chóc, một sinh vật săn mồi, sống bằng những gì còn sống, tự thân, đơn độc, nhờ sức mạnh và sự giỏi giang của chính mình, sống sót đầy chiến thắng trong một môi trường thù địch nơi chỉ kẻ mạnh mới sống được. Chính vì tất cả điều đó mà nó chiếm lĩnh một niềm kiêu hãnh lớn lao trong chính mình, thứ niềm kiêu hãnh ấy truyền sang cả thể xác nó như một thứ lây nhiễm. Nó hiện ra trong mọi chuyển động của nó, lộ ra qua từng bắp thịt, nói rõ như lời nói trong cách nó mang mình, và khiến bộ lông huy hoàng của nó nếu có thì còn huy hoàng hơn nữa. Nếu không có màu nâu lạc trên mõm và phía trên mắt, cùng vệt lông trắng chạy giữa ngực, nó hẳn đã bị nhầm là một con sói khổng lồ, lớn hơn cả giống sói lớn nhất. Từ cha St. Bernard nó thừa hưởng kích thước và trọng lượng, nhưng chính mẹ chăn cừu đã tạo hình cho kích thước và trọng lượng ấy. Mõm nó là mõm sói dài, chỉ khác là lớn hơn mõm của bất kỳ con sói nào; còn cái đầu nó, rộng hơn chút, là đầu sói trên một quy mô đồ sộ.

Sự khôn ngoan của nó là sự khôn ngoan của sói, và sự khôn ngoan hoang dại; trí thông minh của nó là trí thông minh của chó chăn cừu và của St. Bernard; và tất cả những thứ đó, cộng với kinh nghiệm kiếm được từ ngôi trường khắc nghiệt nhất, khiến nó trở thành một sinh vật đáng sợ chẳng kém bất kỳ thứ gì đang lang thang trong rừng hoang. Là một con vật ăn thịt sống bằng khẩu phần thịt tươi thuần túy, nó đang độ rực rỡ nhất, ở đỉnh triều của cuộc sống, tràn đầy sinh lực và sinh tính. Khi Thornton vuốt nhẹ dọc lưng nó, tiếng lách cách và lốp bốp nổi lên theo bàn tay ấy, từng sợi lông phóng ra thứ từ tính bị dồn nén của mình khi chạm vào. Mọi phần, não và thân, mô thần kinh và sợi cơ, đều được lên dây đến độ tinh tế nhất; và giữa tất cả các phần ấy là một thế cân bằng hoàn hảo hay sự điều chỉnh hoàn hảo. Trước những gì đòi hỏi hành động — cảnh tượng, âm thanh hay biến cố — nó phản ứng nhanh như chớp. Nhanh như một con husky có thể nhảy lên để phòng thủ hay tấn công, nó còn có thể nhảy nhanh hơn gấp đôi. Nó nhìn thấy chuyển động, hoặc nghe thấy âm thanh, và đáp lại trong thời gian ngắn hơn cả khi một con chó khác chỉ vừa xong việc nhìn hay nghe. Nó nhận thức, quyết định và đáp lại trong cùng một khoảnh khắc. Thực ra, ba hành động ấy là tuần tự; nhưng khoảng thời gian giữa chúng nhỏ đến mức không thể đo được nên chúng trông như diễn ra đồng thời. Cơ bắp nó đầy ắp sinh lực, và bật vào hoạt động sắc lẹm như lò xo thép. Sự sống tuôn chảy qua nó thành một dòng thác tuyệt đẹp, vui sướng và hung hăng, cho đến mức có cảm giác nó sẽ nổ tung vì khoái cảm thuần khiết và đổ tràn rộng rãi ra khắp thế gian.

“Chưa từng có con chó nào như thế,” John Thornton nói một hôm, khi hai người bạn nhìn Buck sải bước ra khỏi trại.

“Hồi nó được nặn ra, cái khuôn bị bẻ gãy mất rồi,” Pete nói.

“Py jingo! Tao cũng nghĩ vậy,” Hans phụ họa.

Họ thấy nó đi ra khỏi trại, nhưng họ không thấy được sự biến đổi tức khắc và đáng sợ diễn ra ngay khi nó vào đến vùng kín của rừng. Nó không còn sải bước nữa. Lập tức nó trở thành một sinh vật của rừng hoang, lén lút trườn đi êm như mèo, một bóng thoáng qua rồi biến mất giữa những bóng khác. Nó biết tận dụng mọi vật che chắn, biết bò sát mặt đất như rắn, và cũng như rắn, biết bật lên và tấn công. Nó có thể bắt một con chim đa đa ngay trong ổ, giết một con thỏ khi nó đang ngủ, và ngoạm giữa không trung những con sóc nhỏ chạy trốn chậm mất một nhịp khỏi thân cây. Cá trong những vũng nước hở ra không quá nhanh đối với nó; và cả hải ly đang sửa đập cũng không đủ cảnh giác. Nó giết để ăn, không phải vì thích tàn sát; nhưng nó thích ăn chính những gì nó tự tay giết được. Thế nên trong mọi hành động của nó luôn có một nét hài hước rình rập, và nó khoái chí nhất là rón rén đến gần lũ sóc, rồi khi gần như tóm được chúng, lại thả cho chạy, để chúng chíu chít kinh hồn trên những ngọn cây.

Khi mùa thu đến gần, nai sừng tấm xuất hiện nhiều hơn, chậm chạp đi xuống để đón mùa đông ở những thung lũng thấp hơn và bớt khắc nghiệt hơn. Buck đã từng quật ngã một con bê lạc còn nửa lớn; nhưng nó đặc biệt thèm một con mồi lớn hơn và dữ hơn, và một ngày nọ nó gặp được thứ ấy trên đèo ở đầu con suối. Một bầy hai mươi con nai sừng tấm đã băng qua từ vùng đất nhiều sông nhiều rừng, và đứng đầu đàn là một con đực lớn. Nó đang trong cơn dữ, và cao hơn mặt đất hơn sáu foot, là một đối thủ đáng gờm đến mức ngay cả Buck cũng khó mong hơn. Con đực quăng qua quăng lại bộ gạc xoè rộng của nó, phân nhánh tới mười bốn nhánh và dang ra tới bảy foot giữa hai đầu gạc. Đôi mắt nhỏ của nó cháy lên một thứ ánh sáng độc độc cay đắng, còn nó thì gầm rống vì hung hãn khi nhìn thấy Buck.

Từ hông con đực, ngay phía trước đùi sau, một đầu mũi tên có lông nhô ra, và đó là nguyên nhân cơn hung dữ của nó. Được dẫn dắt bởi bản năng vốn đến từ những ngày săn bắn xa xưa của thế giới nguyên sơ, Buck bắt đầu tách con đực ấy khỏi bầy. Đó không phải việc nhẹ. Nó sẽ sủa và nhảy nhót trước mặt con đực, vừa ngoài tầm với của cặp gạc khổng lồ và đôi móng tách toang ghê gớm có thể giẫm nát mạng sống nó chỉ bằng một đòn. Không thể quay lưng trước mối nguy có nanh ấy và cứ thế đi tiếp, con đực bị đẩy vào những cơn cuồng nộ dữ dội. Vào những lúc ấy nó xông vào Buck, còn Buck thì lùi lại khôn khéo, nhử nó bằng vẻ như không tài nào thoát nổi. Nhưng khi đã tách nó ra khỏi đồng bọn, hai ba con đực trẻ hơn sẽ quay lại xông vào Buck, giúp con đực bị thương trở về với đàn.

Có một sự kiên nhẫn của rừng hoang — lì lợm, không biết mệt, bền bỉ như chính sự sống — giữ cho con nhện bất động suốt những giờ vô tận trong mạng, con rắn cuộn mình, con báo phục kích; thứ kiên nhẫn ấy thuộc riêng về sự sống khi nó đi săn miếng ăn còn sống; và Buck cũng sở hữu nó khi nó bám theo hông đàn, làm chậm bước tiến của chúng, chọc tức những con đực trẻ, làm phiền những con cái có bê con còn non, và đẩy con đực bị thương vào cơn cuồng điên bất lực. Suốt nửa ngày như thế. Buck nhân bản thân mình lên, tấn công từ mọi phía, bao lấy cả đàn như một cơn xoáy đe dọa, tách con mồi ra nhanh hơn nó kịp quay về với đồng loại, làm cạn kiệt sự kiên nhẫn của loài bị săn đuổi — một thứ kiên nhẫn yếu hơn nhiều so với kiên nhẫn của loài đi săn.

Khi ngày trôi dần và mặt trời lặn xuống chỗ ngủ ở phía tây bắc (bóng tối đã trở lại và những đêm mùa thu kéo dài sáu tiếng), những con đực trẻ ngày càng miễn cưỡng quay trở lại để trợ giúp kẻ đầu đàn đang bị vây. Mùa đông đang kéo xuống buộc chúng phải lùi về những tầng thấp hơn, và dường như chúng chẳng bao giờ có thể thoát khỏi sinh vật mệt mỏi không biết mỏi kia đang cản đường. Hơn nữa, cái bị đe dọa không phải là sự sống của cả đàn, hay của những con đực trẻ. Chỉ là sự sống của một thành viên mà thôi, một lợi ích xa hơn chính mạng sống của chúng, và cuối cùng chúng cũng bằng lòng nộp cái thuế ấy.

Khi chạng vạng buông xuống, con đực già đứng với đầu cúi thấp, nhìn những bạn đồng loại của nó — những con cái nó từng biết, những bê con nó từng sinh ra, những con đực nó từng chế ngự — đang lặc lè tiến lên với tốc độ nhanh trong ánh sáng đang tắt dần. Nó không thể theo kịp, vì trước mõm nó là nỗi kinh hoàng đầy nanh không chịu buông. Nó nặng hơn nửa tấn tới ba trăm cân; nó đã sống một đời dài và mạnh, đầy chiến đấu và giằng co, và đến cuối cùng nó phải đối mặt với cái chết dưới răng một sinh vật mà đầu nó còn không cao tới quá đầu gối to gân của con nai ấy.

Từ đó trở đi, đêm lẫn ngày, Buck không rời con mồi nửa bước, không cho nó một phút nghỉ ngơi, không để nó gặm lá cây hay những chồi non của cây bạch dương và liễu. Nó cũng không cho con đực bị thương cơ hội làm dịu cơn khát cháy bỏng ở những dòng suối nhỏ rỉ qua họ đi. Nhiều lần, trong tuyệt vọng, con đực bùng lên chạy một quãng dài. Những lúc như thế Buck không tìm cách chặn nó lại, mà chỉ lững thững chạy ngay sau gót, bằng lòng với cách trò chơi được chơi, nằm xuống khi con nai đứng yên, và tấn công dữ dội khi nó cố ăn hay uống.

Cái đầu to lớn ấy cúi thấp dần dưới bộ gạc như một cái cây, còn bước đi xiêu vẹo cũng yếu dần, yếu dần. Nó bắt đầu đứng yên trong những khoảng dài, mũi chạm đất và đôi tai cụp xuống buồn bã; và Buck có nhiều thời gian hơn để tự lấy nước uống và nghỉ ngơi. Vào những lúc như vậy, trong khi thở hổn hển với cái lưỡi đỏ thè dài và mắt dán vào con đực lớn, Buck có cảm giác như một sự thay đổi đang đến trên khuôn mặt của vạn vật. Nó cảm thấy trong đất trời có một sự chuyển động mới. Khi lũ nai sừng tấm đang đi vào vùng đất này, những loài vật khác cũng đang tràn vào. Rừng cây, dòng sông và không khí dường như đang rung động vì sự hiện diện của chúng. Tin tức ấy tới với nó không phải bằng mắt, hay tai, hay mũi, mà bằng một giác quan khác, tinh tế hơn. Nó chẳng nghe thấy gì, chẳng nhìn thấy gì, vậy mà vẫn biết vùng đất này bằng cách nào đó đã khác; rằng qua đó đang có những điều lạ lùng xảy ra và lang thang; và nó quyết định sẽ điều tra sau khi xong việc trước mắt.

Kết thúc chương
Chọn chương