Chương VII. Tiếng gọi vang lên (Phần 3)
Cuối cùng, vào cuối ngày thứ tư, nó quật ngã được con nai sừng tấm lớn. Suốt một ngày một đêm, nó ở lại bên xác mồi, ăn rồi ngủ, thay phiên nhau từng lúc. Rồi khi đã nghỉ ngơi, hồi sức và mạnh mẽ trở lại, nó quay mặt về phía trại và John Thornton. Nó lại lao vào bước chạy dài, dễ dàng, và cứ thế tiến đi, giờ này qua giờ khác, chẳng bao giờ lạc giữa những lối đi ngoằn ngoèo, cứ thẳng đường về nhà qua vùng đất lạ với một sự chắc chắn về phương hướng khiến con người và chiếc la bàn từ tính của họ phải hổ thẹn.
Trong lúc tiếp tục đi, nó càng lúc càng nhận rõ hơn cái chuyển động mới trong lòng đất trời. Ở đó có một dạng sống khác hẳn với thứ đã hiện diện suốt mùa hè. Không còn là thứ nó chỉ cảm nhận bằng một cách tinh tế, bí ẩn nữa. Chim chóc nói về nó, sóc chuột líu lo về nó, chính làn gió cũng thì thầm về nó. Vài lần nó dừng lại và hít thật sâu luồng khí sáng sớm trong lành, đọc lấy một thông điệp khiến nó lại lao nhanh hơn. Nó bị đè nặng bởi cảm giác đang có một tai họa xảy ra, nếu không thì ít nhất cũng là đã xảy ra rồi; và khi vượt qua đường chia nước cuối cùng rồi trườn xuống thung lũng hướng về trại, nó bước đi cẩn trọng hơn.
Cách đó ba dặm, nó gặp một dấu vết mới khiến lông gáy nó rung lên và dựng đứng. Dấu vết ấy dẫn thẳng về trại và John Thornton. Buck vội vàng đi tiếp, nhanh và lén lút, từng dây thần kinh căng như dây đàn, cảnh giác với vô số chi tiết nhỏ đang kể một câu chuyện — chỉ còn thiếu đoạn kết. Mũi nó cho nó biết một bản tường thuật đổi thay về sự sống đã đi trên gót chân nó. Nó nhận ra sự im ắng đầy sinh nở của khu rừng. Đời sống chim chóc đã bay đi. Sóc chuột đã lẩn trốn. Nó chỉ thấy duy nhất một con — một gã xám bóng bẩy, ép phẳng mình vào một cành khô màu xám để trông như một phần của cành ấy, một cục u bằng gỗ mọc lên từ chính thân cây.
Khi Buck lướt đi như một bóng đen trôi, mũi nó bỗng bị giật sang một bên như thể có một lực rõ rệt nắm lấy và kéo đi. Nó lần theo mùi mới vào một bụi rậm và tìm thấy Nig. Nó nằm nghiêng một bên, chết ngay nơi nó đã lết thân mình tới, một mũi tên cắm xuyên người, đầu và lông đuôi ở cả hai phía thân nó.
Cách đó một trăm thước nữa, Buck bắt gặp một con chó kéo mà Thornton đã mua ở Dawson. Con chó ấy đang quằn quại trong một cuộc vật lộn với cái chết, ngay giữa đường mòn, và Buck đi vòng qua nó mà không dừng. Từ trại vang lên tiếng mờ xa của nhiều giọng người, lên xuống như một tiếng ai oán. Nó hạ bụng trườn tới mép khoảng trống, rồi thấy Hans nằm sấp, cắm đầy mũi tên như một con nhím. Ngay khoảnh khắc ấy, Buck nhìn ra chỗ túp lều lợp cành vân sam từng đứng và thấy điều khiến lông trên cổ và vai nó dựng bắn thẳng lên. Một cơn giận khủng khiếp ập tới như gió quật. Nó không biết rằng mình đã gầm, nhưng nó gầm lên thành tiếng với một vẻ hung tàn kinh người. Lần cuối cùng trong đời, nó để cho cảm xúc lấn át gian xảo và lý trí, và chính vì tình yêu quá lớn dành cho John Thornton mà nó đã mất bình tĩnh.
Người Yeehat đang nhảy quanh đống tàn tích của túp lều cành vân sam thì nghe thấy một tiếng gầm khiếp đảm và thấy một con vật lao bổ về phía họ mà họ chưa từng thấy bao giờ. Đó là Buck, một cơn lốc sống của cơn thịnh nộ, đang ném mình vào họ trong cơn điên cuồng muốn hủy diệt. Nó nhảy vào người đi đầu (đó là tù trưởng của người Yeehat), xé toạc cổ họng hắn ra đến mức động mạch cảnh bị rách phụt lên thành một vòi máu. Nó không dừng lại để quần đuổi con mồi ấy, mà vừa lướt qua đã xé tiếp, với cú nhảy kế tiếp rạch toạc cổ họng một người thứ hai. Không gì có thể chặn nó được. Nó lao qua ngay giữa họ, xé, rách, hủy diệt, trong một chuỗi chuyển động liên tục và khủng khiếp, thách thức những mũi tên họ bắn vào nó. Thực ra, các chuyển động của nó nhanh đến mức không tưởng, và những người Yeehat lại đứng sát nhau quá, khiến họ bắn nhầm vào nhau; và một chàng thợ săn trẻ, ném ngọn giáo vào Buck giữa không trung, đã phóng nó xuyên qua ngực một thợ săn khác mạnh đến mức mũi giáo xuyên bật ra phía sau lưng. Rồi nỗi hoảng loạn ập xuống lên người Yeehat, và họ tháo chạy kinh hãi vào rừng, vừa chạy vừa hô lên rằng Thần Ác đã xuất hiện.
Và thật vậy, Buck chính là hiện thân của Quỷ dữ, gầm gào sau gót họ và kéo ngã họ xuống như kéo hươu khi chúng chạy qua những tán cây. Đó là một ngày định mệnh đối với người Yeehat. Họ tan tác khắp vùng, và phải một tuần sau những kẻ sống sót cuối cùng mới tụ lại trong một thung lũng thấp hơn để kiểm đếm thiệt hại. Còn Buck, đã chán cuộc rượt đuổi, nó quay lại trại tan hoang. Nó tìm thấy Pete nơi anh đã bị giết chết trong chăn ngay ở khoảnh khắc đầu tiên khi bị bất ngờ. Cuộc vật lộn tuyệt vọng của Thornton còn hằn mới tinh trên mặt đất, và Buck lần theo từng chi tiết của nó cho tới tận mép một vũng sâu. Bên mép ấy, đầu và hai chân trước ngâm trong nước, là Skeet, trung thành tới phút cuối cùng. Bản thân vũng nước, đục ngầu và lấm bẩn vì bùn trôi từ các máng rửa đã che khuất hoàn toàn thứ nó chứa, và thứ nó chứa chính là John Thornton; bởi Buck lần theo dấu vết của ông xuống nước, và từ đó không còn một dấu nào đi ra nữa.
Suốt cả ngày, Buck trầm ngâm bên vũng nước hoặc lảng vảng không yên quanh trại. Cái chết, như sự ngưng chuyển động, như một sự rời khỏi đời sống của kẻ đang sống, nó đã hiểu, và nó cũng hiểu rằng John Thornton đã chết. Điều đó để lại trong nó một khoảng trống lớn, hơi giống cái đói, nhưng là một khoảng trống đau nhức, nhức buốt không dứt, và thức ăn không thể lấp đầy. Có lúc, khi dừng lại ngắm những xác người Yeehat, nó quên đi nỗi đau ấy; và khi ấy, nó ý thức được một niềm kiêu hãnh lớn lao trong chính mình — lớn hơn bất kỳ điều gì nó từng biết. Nó đã giết người, món mồi cao quý nhất trong tất cả, và nó đã giết ngay trước mặt luật của gậy và nanh. Nó ngửi những thân xác ấy với vẻ hiếu kỳ. Chúng chết dễ dàng quá. Giết một con chó husky còn khó hơn chúng. Chúng chẳng có gì đáng gờm cả, nếu không có mũi tên, giáo và gậy. Từ nay trở đi, nó sẽ chẳng còn sợ chúng, trừ khi chúng mang trong tay mũi tên, giáo và gậy.
Đêm xuống, trăng tròn lên cao khỏi những tán cây trên bầu trời, rải ánh sáng khắp mặt đất đến mức tất cả như đang tắm trong một ban ngày ma mị. Và cùng với bóng đêm, khi đang trầm mặc và đau buồn bên vũng nước, Buck nhận ra có một sự chuyển động của đời sống mới trong rừng ngoài thứ mà người Yeehat đã tạo ra. Nó đứng dậy, lắng nghe và đánh hơi. Từ rất xa vọng tới một tiếng kêu nhỏ, sắc và mảnh, rồi theo sau là cả một hợp xướng những tiếng kêu sắc nhọn tương tự. Theo thời gian, những tiếng kêu ấy ngày càng gần và càng lớn. Một lần nữa Buck nhận ra chúng là những điều từng nghe trong thế giới khác vẫn còn tồn tại trong ký ức nó. Nó đi vào giữa khoảng trống và lắng nghe. Đó là tiếng gọi, tiếng gọi nhiều nốt ấy, vang lên còn mê hoặc và thúc bách hơn bao giờ hết. Và chưa bao giờ như lúc này, nó sẵn sàng vâng theo. John Thornton đã chết. Sợi dây cuối cùng đã đứt. Người và những đòi hỏi của loài người không còn ràng buộc nó nữa.
Khi đi săn miếng mồi sống của mình, như chính bọn Yeehat cũng đang săn trên sườn những con nai di cư, bầy sói cuối cùng đã vượt qua từ vùng đất nhiều sông và rừng cây mà xâm nhập vào thung lũng của Buck. Chúng tràn vào khoảng trống nơi ánh trăng tuôn xuống thành một dòng bạc, và ở giữa khoảng trống ấy Buck đứng bất động như một pho tượng, chờ chúng tới. Chúng bị nó làm cho kinh ngạc, vì nó đứng yên và lớn lao đến thế, và một thoáng dừng lại rơi xuống, cho tới khi con liều nhất lao thẳng về phía nó. Nhanh như chớp, Buck ra đòn, bẻ gãy cổ nó. Rồi nó đứng yên như trước, con sói bị đánh trúng đang lăn lộn đau đớn phía sau. Ba con khác thử lại trong những cú xông dồn dập; và từng con một chúng rút lui, máu chảy đầm đìa từ cổ hay vai bị xé.
Thế là đủ để cả bầy ập tới, hỗn loạn, chen chúc, bị ngăn trở và rối loạn bởi chính sự háo hức lao vào con mồi. Độ nhanh và sự lanh lẹ tuyệt diệu của Buck đã cứu nó. Xoay trên hai chân sau, vừa cắn vừa xé, nó như ở khắp nơi cùng lúc, tạo ra một mặt trận dường như không hề vỡ, vì nó xoay và giữ nhanh đến mức nào từ bên này sang bên kia. Nhưng để ngăn chúng vòng ra sau lưng, nó bị đẩy lùi, đi xuống qua vũng nước rồi vào lòng suối, cho đến khi nó chạm vào một bờ sỏi cao. Nó mò dọc theo một góc vuông ở bờ mà bọn người đã tạo ra trong quá trình đào mỏ, và ở góc ấy nó đứng thủ thế, được che ba phía, không còn việc gì ngoài đối mặt từ phía trước.
Và nó đối mặt giỏi đến mức, đến cuối nửa giờ, lũ sói đã rút lui trong bẽ bàng. Tất cả lưỡi của chúng đều thè ra, rũ xuống, những chiếc nanh trắng hiện lên trắng khủng khiếp dưới ánh trăng. Có con nằm xuống với đầu ngẩng và tai dựng về phía trước; có con đứng nhìn nó; và có con khác đang liếm nước trong vũng. Một con sói, dài, gầy và xám, tiến lên thận trọng, với vẻ thân thiện, và Buck nhận ra người anh em hoang dã với kẻ mà nó từng chạy cùng suốt một đêm một ngày. Con sói ấy rên khẽ, và Buck cũng rên, rồi chúng chạm mũi vào nhau.
Rồi một con sói già, gầy gò, đầy vết chiến trận, tiến lên. Buck nhếch môi thành tiền đề của một tiếng gừ, nhưng vẫn ngửi mũi với nó. Thế là con sói già ngồi xuống, ngẩng mũi về phía mặt trăng, và cất lên tiếng tru dài của loài sói. Những con khác cũng ngồi xuống và tru theo. Và giờ đây tiếng gọi đến với Buck bằng một giọng điệu không thể nhầm lẫn. Nó cũng ngồi xuống và tru. Xong rồi, nó rời khỏi góc bờ của mình và cả đàn xúm quanh nó, ngửi ngửi theo kiểu nửa thân thiện nửa man dại. Những con đầu đàn cất tiếng hú của bầy và phóng vào rừng. Lũ sói ào theo sau, tru lên thành hợp xướng. Và Buck chạy cùng chúng, bên cạnh người anh em hoang dã, tru khi nó chạy.
Và ở đây câu chuyện của Buck có thể kết thúc. Chẳng bao lâu sau, người Yeehat nhận ra có sự thay đổi trong giống sói rừng: bởi hai con được thấy có vệt nâu trên đầu và mõm, với một dải trắng chạy giữa ngực. Nhưng còn kỳ lạ hơn thế, người Yeehat kể về một Con Chó Ma chạy đầu đàn. Họ sợ Con Chó Ma ấy, vì nó quỷ quyệt hơn họ, lẻn vào trại họ trong những mùa đông dữ dội, cướp bẫy, giết chó của họ, và thách thức những thợ săn gan dạ nhất của họ.
Không, câu chuyện còn tệ hơn. Có những thợ săn không trở về trại, và có những thợ săn mà đồng bào họ tìm thấy với cổ họng bị xẻ toạc tàn nhẫn, quanh họ là dấu chân sói trên tuyết lớn hơn dấu của bất kỳ con sói nào. Mỗi mùa thu, khi người Yeehat theo bước di chuyển của đàn nai sừng tấm, có một thung lũng nhất định mà họ không bao giờ bước vào. Và có những người đàn bà buồn rầu khi câu chuyện truyền qua đống lửa về việc Thần Ác đã chọn thung lũng ấy làm nơi trú ngụ.
Tuy nhiên, vào mùa hè, vẫn có một vị khách đến thung lũng ấy, điều mà người Yeehat không hề biết. Đó là một con sói lớn, bộ lông huy hoàng, giống và cũng không giống mọi con sói khác. Nó đi một mình từ vùng rừng gỗ đầy nắng và xuống một khoảng trống giữa những tán cây. Ở đây có một dòng chảy màu vàng từ những bao da nai mục nát, thấm xuống đất, cỏ dài mọc xuyên qua nó và lớp mùn thực vật tràn phủ lên, che mất màu vàng dưới nắng; và ở đây nó ngẫm nghĩ một lúc, tru lên một lần, dài và não nề, trước khi rời đi.
Nhưng nó không phải lúc nào cũng đi một mình. Khi những đêm đông dài tràn đến và bầy sói lần theo mồi xuống các thung lũng thấp hơn, người ta có thể thấy nó chạy đầu đàn xuyên qua ánh trăng nhợt hoặc vệt bắc cực quang lấp lánh, nhảy vọt khổng lồ lên cao hơn đồng loại, cổ họng lớn gầm vang khi nó hát một khúc ca của thế giới non trẻ, chính là khúc ca của bầy đàn.
Ủng hộ nhóm dịch
Mỗi đồng ủng hộ giúp nhóm dịch duy trì và ra chương đều hơn 💛
Bank