Chương III. Mãnh thú nguyên sơ thống trị (Phần 1)
Bản năng nguyên sơ thống trị mạnh mẽ trong Buck, và dưới những điều kiện khốc liệt của đời sống đường mòn nó lớn dần, lớn dần. Nhưng đó là một sự lớn lên âm thầm. Sự gian xảo vừa sinh ra đã đem lại cho nó sự điềm tĩnh và khả năng tự chủ. Nó quá bận thích nghi với đời sống mới nên không thấy dễ chịu, và không những nó không gây sự, mà còn tránh đánh nhau bất cứ khi nào có thể. Ở thái độ của nó luôn có một vẻ chậm rãi nhất định. Nó không ưa hành động hấp tấp, liều lĩnh; và trong mối căm ghét dữ dội giữa nó và Spitz, nó không để lộ chút nóng nảy nào, lảng tránh mọi hành vi khiêu khích.
Mặt khác, có lẽ vì hắn nhìn ra Buck là một đối thủ nguy hiểm, Spitz chẳng bao giờ bỏ lỡ cơ hội nhe răng. Hắn còn cố tình gây sự với Buck, luôn tìm cách khởi đầu cho cuộc chiến chỉ có thể kết thúc khi một trong hai con chết. Ngay đầu chuyến đi, chuyện ấy suýt nữa đã xảy ra nếu không có một tai nạn bất ngờ. Cuối ngày hôm đó họ cắm trại ảm đạm và thê lương trên bờ hồ Le Barge. Tuyết quất, gió cắt như dao nung trắng, và bóng đêm buộc họ phải mò mẫm tìm chỗ qua đêm. Họ khó mà rơi vào cảnh tệ hơn. Sau lưng họ là một bức vách đá dựng đứng, và Perrault cùng François buộc phải nhóm lửa và trải túi ngủ trên chính mặt băng của hồ. Cái lều họ đã bỏ lại ở Dyea để đi cho nhẹ. Mấy khúc gỗ trôi dạt đủ cho họ một bếp lửa, thứ đã tan chảy xuống xuyên qua băng và để họ phải ăn tối trong bóng tối.
Buck làm ổ ngay dưới chỗ trú của tảng đá. Nó ấm và kín đến nỗi nó không muốn rời đi khi François phát phần cá đã được rã đông trên lửa. Nhưng khi Buck ăn xong phần của mình và quay lại, nó thấy chỗ nằm đã bị chiếm. Một tiếng gầm cảnh cáo cho biết kẻ xâm chiếm là Spitz. Từ trước đến nay Buck vẫn tránh đụng độ với kẻ thù của mình, nhưng lần này thì quá đáng lắm. Con thú trong nó gầm lên. Nó phóng bổ lên Spitz với một cơn giận khiến cả hai đều kinh ngạc, và riêng Spitz thì đặc biệt kinh ngạc, vì toàn bộ trải nghiệm trước đây của hắn với Buck đều cho hắn tin rằng đối thủ này là một con chó nhát gan khác thường, chỉ giữ được vị trí của mình nhờ thân hình to và nặng.
François cũng sững sờ, khi hai con chó lao ra khỏi cái ổ bị phá tung và ông nhận ra nguyên nhân cuộc cãi vã. “À à à!” ông kêu với Buck. “Cho nó biết tay đi, đồ Chúa phạt! Cho nó biết tay, thằng trộm bẩn thỉu!”
Spitz cũng sẵn sàng như thế. Hắn rống lên vì giận dữ và háo hức khi vòng qua vòng lại chờ cơ hội lao vào. Buck cũng háo hức không kém, và cũng không kém phần thận trọng, khi nó vòng theo để tìm lợi thế. Nhưng rồi điều bất ngờ xảy ra, thứ sẽ đẩy cuộc tranh chấp quyền lực của họ xa vào tương lai, vượt qua bao dặm đường nhọc nhằn sau đó.
Một tiếng chửi của Perrault, tiếng va đập nặng nề của cây gậy lên thân thể gầy guộc, và một tiếng rên sắc nhọn vì đau báo hiệu cơn hỗn loạn bùng ra. Cả trại bỗng đầy những hình dáng lông lá lảng vảng — những con husky đói, bốn năm chục con, đã đánh hơi được trại từ một ngôi làng da đỏ nào đó. Chúng lẻn vào lúc Buck và Spitz đang đánh nhau, và khi hai người đàn ông cầm gậy chắc bước vào giữa chúng, chúng nhe răng chống trả. Chúng phát điên vì mùi thức ăn. Perrault bắt gặp một con đang cắm đầu vào thùng đồ ăn. Cú gậy của ông giáng nặng vào cái sườn gầy, và thùng đồ ăn bị hất đổ xuống đất. Ngay lập tức một chục con quái đói đã nhào vào bánh mì và thịt xông khói. Gậy rơi xuống nhưng chúng chẳng buồn để ý. Chúng rú và tru dưới mưa đòn, nhưng vẫn điên cuồng tranh giành cho tới khi miếng vụn cuối cùng bị nuốt sạch.
Trong khi đó, những con chó kéo xe đang sững sờ đã bật ra khỏi ổ để rồi bị lũ xâm lăng hung hãn tấn công. Buck chưa từng thấy chó như thế. Có cảm giác như xương chúng sắp xuyên thủng qua lớp da. Chúng chỉ là những bộ xương khoác hờ lớp da nhăn nhúm, mắt cháy sáng và nanh dãi nhễu. Nhưng cơn đói đã làm chúng thành thứ đáng sợ, không thể kháng cự. Không thể chống nổi chúng. Những con chó trong đội bị đẩy lùi áp sát vách đá ngay cú lao đầu tiên. Buck bị ba con husky vây lấy, và chỉ trong chốc lát đầu cùng vai nó đã bị xé toạc và cắt rách. Tiếng ồn kinh khủng. Billee vẫn khóc như mọi khi. Dave và Sol-leks, máu nhỏ xuống từ hàng chục vết thương, vẫn chiến đấu dũng cảm kề vai. Joe ngoạm cắn như ma quỷ. Một lần, hàm nó khép vào chân trước của một con husky, rồi nghiến qua cả xương. Pike, gã lười nhác, nhảy vào con thú bị què, bẻ gãy cổ nó bằng một chớp răng và một cú giật. Buck ghim được một đối thủ đang sùi bọt ở cổ họng, và máu văng tung tóe khi răng nó xuyên qua tĩnh mạch cảnh. Vị ấm của máu trong miệng khiến nó càng hung hăng hơn. Nó lao vào một con khác, đồng thời cảm thấy răng cắn phập vào cổ họng chính mình. Đó là Spitz, đang phản bội tấn công từ bên hông.
Perrault và François, sau khi quét sạch phần của mình trong trại, vội quay lại cứu bầy chó kéo. Làn sóng thú đói tràn lùi trước họ, và Buck giật mình thoát được. Nhưng chỉ trong chốc lát. Hai người đàn ông buộc phải quay lại cứu lương thực, và lũ husky lại tấn công đội chó. Billee, hoảng sợ đến mức thành can đảm, lao xuyên qua vòng vây hung dữ và bỏ chạy trên mặt băng. Pike và Dub theo sát gót, cả đội còn lại chạy sau. Khi Buck co mình để nhảy theo, nó liếc đuôi mắt thấy Spitz xông tới với ý đồ rõ ràng là lật ngửa nó. Một khi đã mất chân và rơi xuống dưới đống husky ấy thì nó coi như hết hy vọng. Nhưng nó gồng mình đón cú xông của Spitz, rồi cùng cả bầy bỏ chạy ra mặt hồ.
Sau đó, chín con chó kéo tập hợp lại và tìm chỗ trú trong rừng. Dù không bị đuổi theo, chúng vẫn thê thảm. Không con nào không mang bốn năm vết thương, có con còn bị nặng. Dub bị thương nặng ở một chân sau; Dolly, con husky cuối cùng được thêm vào đội ở Dyea, bị rách nát cổ họng; Joe mất một mắt; còn Billee, con hiền lành, với một cái tai bị nhai rách tả tơi, cứ rên rỉ và nức nở suốt đêm. Rạng sáng, chúng tập tễnh quay về trại, chỉ thấy bọn cướp đã đi mất và hai người đàn ông đang nổi cáu. Ít nhất một nửa số lương thực của họ đã biến mất. Lũ husky đã gặm xuyên hết dây buộc và lớp bạt che xe trượt. Thật ra, chẳng thứ gì dù xa xôi đến mấy còn ăn được mà chúng không xơi. Chúng đã ăn mất một đôi giày da nai của Perrault, cắn đứt những đoạn dây da kéo xe, và thậm chí còn nhai mất hai feet dây ở cuối roi François. Ông dứt khỏi sự ngắm nghía u sầu đó để xem xét lũ chó bị thương của mình.
“À, các bạn của tôi,” ông nói khẽ, “có lẽ mấy cú cắn ấy làm các anh thành chó điên. Có lẽ tất cả đều điên cả, chết tiệt! Các anh nghĩ sao, hả Perrault?”
Người đưa công văn lắc đầu ngần ngại. Còn bốn trăm dặm đường phía trước giữa ông và Dawson, ông không thể nào để bệnh dại bùng lên trong bầy chó. Hai giờ chửi rủa và hì hục mới sửa xong dây đai, và đội chó đã bị thương, đau cứng cả mình, lại lên đường, nhọc nhằn vượt qua phần khó khăn nhất của con đường họ từng gặp, và cũng là phần khó nhất giữa họ và Dawson.
Sông Thirty Mile hoàn toàn mở toang. Dòng nước hoang dã của nó thách thức sương giá, và chỉ ở những xoáy nước cùng các chỗ yên lặng băng mới chịu đóng. Phải mất sáu ngày nhọc nhằn kiệt sức mới vượt qua được ba mươi dặm kinh khủng ấy. Và đúng là kinh khủng, vì từng tấc đường đều được đổi bằng nguy cơ tính mạng cho cả chó lẫn người. Hàng chục lần, Perrault, lần theo lối đi bằng mũi mình, đã sụp xuyên qua các cầu băng, nhưng được cứu nhờ cây sào dài ông mang theo, ông cầm sao cho nó mỗi lần lại gác ngang qua lỗ do thân mình đâm xuống. Nhưng một đợt rét đậm đang ập tới, nhiệt kế báo âm năm mươi độ, và mỗi lần xuyên qua băng, vì muốn giữ mạng, ông đều buộc phải nhóm lửa và sấy khô quần áo.
Điều đó chẳng làm ông nản. Chính vì không gì làm ông nản mà ông mới được chọn làm người chở công văn của chính phủ. Ông chấp nhận mọi rủi ro, cắm cái gương mặt bé nhỏ gầy guộc thẳng vào cái rét rồi kiên quyết tiến lên từ rạng sáng mờ mờ đến khi trời tối. Ông men theo những bờ sông cau có trên lớp băng mép mỏng manh đang cong và lách tách dưới chân, nơi họ không dám dừng lại. Có lần, xe trượt sụp xuống, kéo theo Dave và Buck, và khi được lôi lên thì cả hai gần như bị đóng băng và suýt chết đuối. Lại phải nhóm lửa như thường lệ để cứu chúng. Chúng được phủ đặc băng, và hai người đàn ông bắt chúng chạy vòng quanh đống lửa, đổ mồ hôi và tan băng, đến mức gần lửa sát như vậy mà lông còn bị sém cháy.
Lúc khác, Spitz sụp xuống, lôi cả đội kéo theo cho đến tận Buck, kẻ phải gồng lùi hết sức, hai bàn chân trước bám mép băng trơn tuột trong khi băng rung lên và nứt tách khắp nơi. Nhưng sau lưng nó cũng có Dave, đang gồng lùi tương tự, và phía sau xe trượt là François, kéo tới nỗi gân ông như muốn nổ tung.
Lại có lần, lớp băng mép trước và sau đều vỡ ra, không còn lối thoát nào ngoài việc leo lên vách đá. Perrault leo được bằng một phép màu, trong khi François cầu nguyện chính phép màu ấy; và với mọi dây đai, dây buộc xe, cùng toàn bộ phần dây nịt cuối cùng được buộc thành một sợi dây dài, từng con chó một được kéo lên đỉnh vách. François lên cuối cùng, sau xe trượt và hàng hóa. Rồi lại phải tìm chỗ xuống dốc, và cuối cùng họ xuống được nhờ sợi dây, đến đêm thì lại thấy mình quay về trên con sông, chỉ kém ngày hôm ấy một phần tư dặm đường.
Đến lúc họ tới Hootalinqua và gặp băng tốt, Buck đã kiệt quệ. Những con chó còn lại cũng trong tình trạng ấy; nhưng Perrault, để bù thời gian đã mất, thúc chúng đi từ sáng sớm đến khuya. Ngày đầu họ đi được ba mươi lăm dặm tới Big Salmon; ngày kế ba mươi lăm dặm nữa tới Little Salmon; ngày thứ ba bốn mươi dặm, đưa họ tiến gần tới Five Fingers.
Chân Buck không nhỏ gọn và cứng cáp như chân lũ husky. Chúng đã mềm đi qua bao thế hệ kể từ ngày tổ tiên hoang dại cuối cùng của nó được một người sống trong hang hay một kẻ sống bên sông thuần hóa. Suốt cả ngày nó khập khiễng trong đau đớn, và mỗi khi dựng trại là lại nằm lăn ra như chó chết. Đói đến thế, nó vẫn không chịu nhúc nhích khi đến lượt mình nhận khẩu phần cá, nên François phải mang tới tận nơi. Ngoài ra, người lái chó còn xoa chân Buck mỗi tối nửa giờ sau bữa ăn, và hy sinh phần mũi giày moccasin của chính mình để làm bốn chiếc moccasin cho Buck. Điều ấy giúp ích rất nhiều, và có một buổi sáng Perrault còn phải méo mặt bật cười khi François quên mất mấy đôi moccasin, còn Buck nằm ngửa, bốn chân khua lên đầy van vỉ trên không, nhất quyết không chịu nhúc nhích nếu không có chúng. Về sau, chân nó trở nên cứng cáp với đường mòn, và thứ giày dép đã mòn nhũn ấy bị vứt đi.
Một buổi sáng ở Pelly, khi họ đang buộc dây chuẩn bị lên đường, Dolly, con chưa từng nổi bật vì điều gì, bỗng phát điên. Nó báo hiệu tình trạng của mình bằng một tiếng tru dài như sói, đau đớn đến nát lòng, khiến mọi con chó đều dựng lông vì sợ, rồi nó lao thẳng vào Buck. Nó chưa từng thấy con chó nào phát điên, và cũng không có lý do gì để sợ cơn điên; nhưng nó biết nơi đây là kinh hoàng, và bỏ chạy khỏi nó trong cơn hoảng loạn. Nó lao thẳng đi, còn Dolly, thở hổn hển và sùi bọt mép, chỉ kém đúng một cú nhảy phía sau; mà nàng cũng không thể rút ngắn khoảng ấy, vì nỗi sợ hãi của Buck quá lớn, còn cơn điên của nàng quá dữ. Nó lao xuyên qua phần rừng rậm ở giữa đảo, phóng xuống đầu bên kia, băng qua một nhánh nước phía sau đầy băng thô sang một đảo khác, tới đảo thứ ba, vòng ngược lại dòng chính, rồi trong tuyệt vọng bắt đầu băng qua nó. Và suốt thời gian ấy, dù nó không ngoái lại, nó vẫn nghe tiếng gầm gừ của nàng chỉ cách một cú nhảy phía sau. François gọi nó từ cách một phần tư dặm, và nó ngoặt trở lại, vẫn chỉ hơn nàng đúng một cú nhảy, thở dốc đau đớn và đặt cả niềm tin rằng François sẽ cứu nó. Người lái chó giơ cao cái rìu trong tay, và khi Buck vụt qua trước mặt ông, lưỡi rìu nện xuống đầu con Dolly điên loạn.
Buck loạng choạng đập vào xe trượt, kiệt sức, nức nở lấy hơi, hoàn toàn bất lực. Đây là cơ hội của Spitz. Hắn lao bổ vào Buck, và hai lần răng hắn cắm vào kẻ thù không chống cự, xé rách da thịt tới tận xương. Rồi roi François quất xuống, và Buck có được niềm thỏa mãn khi thấy Spitz nhận trận đòn tệ nhất từ trước tới nay mà bất cứ con nào trong đội phải chịu.
“Con quỷ đó, con Spitz đó,” Perrault nhận xét. “Rồi cũng có ngày nó giết thằng Buck cho coi.”
“Con Buck hai con quỷ,” François đáp lại. “Tao nhìn con Buck này hoài, tao biết chắc. Nghe tao nói nè: có ngày đẹp trời nào đó nó nổi điên như địa ngục rồi nó nhai nát con Spitz đó, nhổ ra trên tuyết. Chắc chắn. Tao biết.”
Từ đó trở đi là chiến tranh giữa chúng. Spitz, với tư cách chó đầu đàn và chủ tể được công nhận của cả đội, cảm thấy quyền uy của mình bị đe dọa bởi con chó lạ từ miền Nam này. Và Buck đối với hắn quả thật là lạ, vì trong số những con chó miền Nam hắn từng biết, chẳng con nào tỏ ra đáng giá trên trại hay trên đường mòn. Tất cả đều quá mềm yếu, chết vì nhọc nhằn, vì giá lạnh và vì đói. Buck là ngoại lệ. Chỉ một mình nó chịu đựng và thịnh vượng, sánh được với lũ husky về sức mạnh, sự hung dữ và trí khôn. Rồi nó lại là một con chó đầy uy thế, và điều làm nó nguy hiểm là cây gậy của gã áo len đỏ đã đánh bật khỏi nó mọi sự liều mạng mù quáng và xông xáo hấp tấp trong khát vọng giành quyền thống trị. Nó cực kỳ khôn ngoan, và có thể chờ đợi bằng một thứ kiên nhẫn chẳng khác nào bản năng nguyên sơ.
Ủng hộ nhóm dịch
Mỗi đồng ủng hộ giúp nhóm dịch duy trì và ra chương đều hơn 💛
Bank