Chương V. Nỗi nhọc nhằn của dây kéo và đường mòn (Phần 2)
Kẻ đầu tiên bỏ cuộc là Dub. Con chó tội nghiệp, vụng về và hay ăn cắp, lúc nào cũng bị bắt quả tang rồi bị phạt, vậy mà nó vẫn là một kẻ làm việc trung thành. Cái xương bả vai bị trẹo của nó, không được chữa trị cũng chẳng được nghỉ ngơi, ngày càng nặng hơn, cho đến cuối cùng Hal bắn nó bằng khẩu Colt to tướng. Người ta vẫn nói ở vùng này rằng một con chó miền ngoài sẽ chết đói nếu chỉ được ăn theo khẩu phần của husky, vậy nên sáu con chó miền ngoài dưới tay Buck cũng chẳng thể làm gì khác ngoài chết trên nửa khẩu phần ấy. Con Newfoundland đi đầu tiên, theo sau là ba con chỉ điểm lông ngắn; hai con lai thì bám vào sự sống dai hơn, nhưng rồi cũng đến lượt chúng.
Lúc ấy, mọi vẻ tiện nghi và dịu dàng của miền Nam đã rơi rụng khỏi ba con người kia. Bị tước đi hết sự quyến rũ và mộng tưởng, chuyến đi Bắc Cực hiện ra với họ như một hiện thực quá khắc nghiệt đối với cả nam tính lẫn nữ tính của họ. Mercedes không còn khóc vì lũ chó nữa, bởi nàng quá bận khóc cho chính mình và cãi nhau với chồng cùng anh trai. Cãi nhau là việc duy nhất mà cả ba chưa bao giờ mệt đến mức không làm nổi. Sự cáu kỉnh của họ sinh ra từ khổ sở, lớn lên cùng khổ sở, nhân đôi cùng khổ sở và còn chạy nhanh hơn cả khổ sở. Cái kiên nhẫn tuyệt vời của đường mòn, thứ đến với những người lao động cực nhọc và chịu đựng sâu sắc mà vẫn giữ giọng nói dịu dàng, tử tế, đã không đến với hai người đàn ông và người đàn bà này. Họ chẳng có lấy một ý niệm mơ hồ nào về thứ kiên nhẫn ấy. Thân thể họ cứng và đau; cơ bắp đau, xương đau, ngay cả tim họ cũng đau; và vì thế họ trở nên sắc giọng, đến mức những lời nặng nề là thứ đầu tiên trên môi họ vào buổi sáng và là thứ cuối cùng vào ban đêm.
Charles và Hal cãi vã bất cứ khi nào Mercedes tạo điều kiện cho họ. Mỗi người đều tin chắc rằng mình làm nhiều việc hơn phần của mình, và chẳng ai ngại nói ra niềm tin ấy mỗi khi có cơ hội. Đôi khi Mercedes ngả về phía chồng, đôi khi lại về phía anh trai. Kết quả là một cuộc cãi vã gia đình đẹp đẽ và không bao giờ dứt. Nó có thể khởi từ chuyện ai sẽ chặt vài que củi nhóm lửa (một chuyện chỉ liên quan tới Charles và Hal), rồi ngay sau đó lại lôi cả gia đình, cha mẹ, cậu dì, anh em họ, những người ở cách đó hàng nghìn dặm, và cả những kẻ đã chết vào cuộc. Việc Hal có quan điểm gì về nghệ thuật, hay về thứ kịch xã hội mà cậu ruột hắn viết, mà lại có thể liên quan đến việc chặt mấy que củi đốt lửa là điều vượt quá sức hiểu; nhưng cuộc cãi vã vẫn có thể rẽ sang hướng đó y hệt như rẽ sang các thành kiến chính trị của Charles. Và việc cái lưỡi hay mách lẻo của em gái Charles lại có liên quan gì đến việc nhóm một bếp lửa Yukon chỉ có mình Mercedes mới thấy rõ, nàng trút xuống một đống ý kiến dài lê thê về chủ đề ấy, và tiện thể cả vài tính xấu khác của gia đình bên chồng nàng nữa. Trong khi đó, lửa vẫn chưa nhóm, trại dựng được nửa chừng, và lũ chó thì chưa được cho ăn.
Mercedes nuôi một nỗi bất bình đặc biệt — nỗi bất bình của giới tính. Nàng xinh đẹp và mềm mại, và từ bé đến lớn vẫn luôn được đối xử theo kiểu hiệp sĩ. Nhưng cách đối xử hiện tại của chồng và anh trai nàng thì hoàn toàn trái ngược với hiệp sĩ. Thói quen của nàng là yếu đuối, phụ thuộc. Họ lại phàn nàn. Bị kết tội vì điều vốn với nàng là quyền ưu tiên cốt lõi của giới nữ, nàng khiến cuộc sống của họ không thể chịu nổi. Nàng chẳng còn nghĩ đến lũ chó nữa, và vì đau và mệt, nàng cứ nhất quyết ngồi xe trượt. Nàng xinh đẹp và mềm mại, nhưng nặng tới một trăm hai mươi cân — một cọng rơm cuối cùng, đầy sức nặng, đặt lên lưng những con vật yếu và đói. Nàng ngồi xe nhiều ngày liền, cho đến khi chúng quỵ xuống trong dây kéo và xe trượt đứng chết tại chỗ. Charles và Hal năn nỉ nàng xuống xe đi bộ, khẩn khoản, van vỉ, trong khi nàng vừa khóc vừa khẩn cầu Trời cao và kể lể về sự tàn bạo của họ.
Có một lần họ phải dùng hết sức kéo nàng khỏi xe. Và họ không làm thế lần thứ hai nữa. Nàng buông thõng chân như một đứa trẻ hư, rồi ngồi phịch xuống đường mòn. Họ đi tiếp, nhưng nàng không nhúc nhích. Sau khi đi được ba dặm, họ dỡ hết hàng khỏi xe, quay lại đón nàng, rồi phải dùng hết sức mà đặt nàng lên xe lần nữa.
Trong cơn khổ sở quá mức của bản thân, họ trở nên dửng dưng trước nỗi đau của bầy vật. Lý thuyết của Hal, mà hắn áp dụng với người khác, là muốn sống thì phải trở nên chai lì. Hắn khởi đầu bằng cách giảng điều đó cho em gái và anh rể. Thất bại ở đó, hắn liền đóng thẳng lý thuyết ấy vào lũ chó bằng cây gậy. Ở Five Fingers, thức ăn chó cạn sạch, và một bà già da đỏ không răng đề nghị đổi cho họ vài cân da ngựa đông cứng lấy khẩu Colt vẫn đi cùng con dao săn lớn bên hông Hal. Đó là một thứ thay thế thực sự tồi cho thức ăn, chẳng khác gì lớp da đã bị lột khỏi những con ngựa đói trơ xương của bọn nuôi bò sáu tháng trước. Ở trạng thái đông đá, nó giống những dải sắt kẽm hơn là da thịt, và khi một con chó vật lộn nuốt nó vào bụng, nó tan ra thành những dải da mỏng nhạt dinh dưỡng, cùng cả một đống lông ngắn, kích thích và khó tiêu.
Và xuyên suốt tất cả, Buck vẫn loạng choạng đi đầu đội như trong cơn ác mộng. Nó kéo khi còn có thể; khi không kéo nổi nữa, nó ngã xuống và nằm im cho tới khi roi quất hay gậy đánh buộc nó phải gượng đứng lên. Cả vẻ cứng cáp lẫn độ bóng mượt đều biến mất khỏi bộ lông đẹp của nó. Lông rủ xuống, ướt và bết, hoặc dính những vệt máu khô ở chỗ Hal đã vụng về dùng gậy làm bầm nó. Cơ bắp nó tiêu đi thành những sợi gân gầy guộc, còn những miếng thịt đệm đã biến mất, khiến từng chiếc xương sườn và mỗi đầu xương trên thân nó hiện rõ qua lớp da lỏng lẻo nhăn thành những nếp trống rỗng. Nhìn mà đau lòng, chỉ có trái tim Buck là không thể bị bẻ gãy. Điều đó đã được người đàn ông áo len đỏ chứng minh.
Buck như vậy thì đồng đội của nó cũng vậy. Chúng là những bộ xương biết đi. Tất cả cộng lại có bảy con, kể cả nó. Trong nỗi khổ sở quá lớn, chúng trở nên chai lì với cú quất của roi hay cú bầm của gậy. Cơn đau từ những trận đòn trở nên mờ xa, cũng như những gì mắt chúng thấy và tai chúng nghe cũng đều trở nên mờ xa. Chúng không phải sống một nửa, hay một phần tư. Chúng chỉ là mấy cái bao xương, trong đó ngọn lửa sự sống đang leo lét. Khi dừng lại, chúng ngã xuống trong dây kéo như chó chết; rồi khi gậy hay roi rơi xuống, ngọn lửa ấy lại bùng lên yếu ớt, và chúng loạng choạng đứng dậy rồi lê tiếp.
Rồi đến một ngày Billee, con hiền lành, ngã xuống và không đứng dậy nổi. Hal đã đổi cây súng lục đi rồi, nên hắn lấy rìu và nện vào đầu Billee khi nó đang nằm trong dây kéo, sau đó cắt xác nó ra khỏi dây nịt và kéo sang một bên. Buck nhìn thấy, và đồng đội của nó cũng nhìn thấy, và chúng biết rằng điều đó đã ở rất gần với mình. Ngày hôm sau Koona cũng đi nốt, và chỉ còn năm con: Joe, đã đi quá xa tới mức không còn đủ sức độc địa nữa; Pike, què quặt và khập khiễng, nửa tỉnh nửa mê và cũng chẳng còn đủ tỉnh để mà giả vờ lười; Sol-leks, con một mắt, vẫn trung thành với nhọc nhằn của dây kéo và đường mòn, và buồn bã vì nó có quá ít sức để mà kéo; Teek, con chưa đi xa bằng trong mùa đông ấy, và giờ thì bị đánh gục mạnh hơn những con khác vì nó còn khỏe hơn; và Buck, vẫn ở đầu đội, nhưng không còn ép được kỷ luật hay cố ép kỷ luật nữa, nửa thời gian mù vì yếu, và phải giữ đường bằng cái bóng lờ mờ của nó cùng cảm giác mờ nhạt từ bàn chân.
Trời đang vào mùa xuân đẹp đến mê người, nhưng cả chó lẫn người đều không hay biết. Mỗi ngày mặt trời mọc sớm hơn và lặn muộn hơn. Ba giờ sáng đã là rạng đông, và hoàng hôn còn lảng vảng tới tận chín giờ đêm. Suốt quãng ngày dài ấy là một biển nắng. Sự im lặng ma quái của mùa đông đã nhường chỗ cho tiếng rì rầm lớn của mùa xuân đang thức dậy. Tiếng rì rầm ấy dâng lên từ khắp đất trời, nặng đầy niềm vui được sống. Nó đến từ những thứ sống và chuyển động trở lại, những thứ đã như chết và không động đậy suốt mấy tháng băng giá. Nhựa cây đang dâng lên trong những thân thông. Liễu và dương đang bật chồi non. Cây bụi và dây leo khoác lên lớp áo xanh tươi mới. Đêm đến dế kêu, ban ngày đủ thứ bò, bò, trườn trườn lại rù rào bò ra dưới nắng. Chim đa đa và chim gõ kiến vang rền trong rừng. Sóc lanh lảnh, chim chóc hót vang, và phía trên đầu, những đàn chim hoang từ phương Nam bay lên trong các đội hình tam giác khéo léo, xé toang không trung.
Từ mỗi sườn đồi đều vang lên tiếng nước chảy róc rách, tiếng nhạc của những mạch nguồn vô hình. Mọi thứ đều tan băng, gập xuống, nứt vỡ. Sông Yukon đang vùng vẫy để phá tung lớp băng đã trói chặt nó. Nó gặm mòn từ bên dưới; mặt trời gặm từ bên trên. Những khoảng hổng trong băng hiện ra, các khe nứt bật mở và lan rộng, trong khi những mảng băng mỏng bị tuột hẳn xuống sông. Và giữa cái nổ bung, xé toạc, rung động của sự sống đang thức dậy ấy, dưới mặt trời chói chang và trong làn gió nhẹ, hai người đàn ông, người đàn bà và lũ husky vẫn loạng choạng đi như những kẻ hành hương tiến về cái chết.
Với lũ chó ngã gục, Mercedes vừa khóc vừa ngồi xe, Hal chửi thề một cách vô hại, và mắt Charles ướt lên đầy tiếc nuối, họ lảo đảo đi vào trại của John Thornton ở cửa sông White River. Khi họ dừng lại, lũ chó ngã xuống như thể tất cả đã bị đánh chết. Mercedes lau mắt và nhìn John Thornton. Charles ngồi xuống một khúc gỗ để nghỉ. Ông ngồi xuống rất chậm và rất khó nhọc vì toàn thân cứng đờ. Hal là người nói chuyện. John Thornton đang gọt những nét cuối cùng lên cán rìu làm từ một khúc bạch dương. Ông vừa gọt vừa lắng nghe, trả lời bằng những câu ngắn một âm tiết, và khi được hỏi thì cho những lời khuyên ngắn gọn. Ông hiểu giống chó, và đưa ra lời khuyên với sự chắc chắn rằng nó sẽ không được nghe theo.
“Người ta nói trên kia rằng nền đường mòn đang sụp mất rồi và điều tốt nhất cho chúng tôi là nên ở lại,” Hal đáp lại lời cảnh báo của Thornton rằng đừng mạo hiểm nữa trên lớp băng mục. “Họ nói chúng tôi không thể tới White River, và giờ thì chúng tôi đã ở đây rồi.” Câu sau cùng đó mang một giọng thắng thế khinh khỉnh.
“Và họ nói đúng đấy,” John Thornton đáp. “Nền đường mòn có thể sụp bất cứ lúc nào. Chỉ những kẻ ngu xuẩn, lại gặp vận may mù quáng của bọn ngu xuẩn, mới có thể vượt qua nó. Tôi nói thật, tôi chẳng đời nào dám đánh cược cái xác mình trên lớp băng ấy lấy tất cả vàng ở Alaska đâu.”
“Đó là vì ông không ngu, tôi đoán thế,” Hal nói. “Dù sao thì chúng tôi vẫn sẽ đi Dawson.” Hắn gỡ roi ra. “Đứng dậy nào, Buck! Nào! Đứng dậy! Đi tiếp!”
Thornton lại cúi xuống gọt. Ông biết vô ích khi cố chen giữa kẻ ngốc và sự ngu ngốc của nó; mà thêm một hai kẻ ngốc nữa hay bớt đi cũng chẳng làm đổi được cục diện của thế gian.
Nhưng đội chó không đứng dậy theo lệnh. Từ lâu nó đã bước sang giai đoạn phải dùng roi mới kéo được nó dậy. Roi quất ra, chỗ này chỗ kia, làm nhiệm vụ tàn nhẫn của nó. John Thornton mím chặt môi. Sol-leks là con đầu tiên bò lên. Teek theo sau. Joe đến kế tiếp, rú lên vì đau. Pike cố gắng khó nhọc. Hai lần nó ngã xuống khi mới được nửa chừng, và đến lần thử thứ ba mới gượng dậy được. Buck thì không cố gì cả. Nó nằm im nơi mình đã ngã. Roi quất vào nó hết lần này đến lần khác, nhưng nó không rên, cũng không vùng vẫy. Vài lần Thornton giật mình như định nói, nhưng rồi lại đổi ý. Mắt ông ươn ướt, và trong lúc trận đòn vẫn tiếp diễn, ông đứng dậy đi qua đi lại đầy do dự.
Đây là lần đầu tiên Buck thất bại, mà chỉ riêng điều đó cũng đủ để Hal nổi điên. Hắn đổi roi lấy cây gậy quen thuộc. Buck từ chối nhúc nhích dưới mưa đòn nặng hơn đang trút xuống mình. Cũng như đồng đội, nó gần như không đứng nổi dậy, nhưng khác chúng ở chỗ nó đã quyết không đứng dậy. Nó có một cảm giác mơ hồ về tai họa sắp tới. Cảm giác ấy đã rất mạnh khi nó kéo vào bờ, và giờ vẫn chưa rời đi. Giữa lớp băng mỏng manh và mục rỗng nó đã cảm thấy dưới chân suốt cả ngày, dường như nó ngửi được thảm họa đang ở ngay gần, ở phía trước ngoài kia trên mặt băng nơi chủ nó đang cố thúc nó đi. Nó nhất quyết không động đậy. Nó đã chịu đựng quá nhiều, và đã đi đến chỗ quá kiệt, đến nỗi những cú đánh không còn đau mấy. Và khi chúng cứ tiếp tục rơi xuống, đốm lửa sự sống trong nó lịm dần và tụt xuống. Nó gần tắt hẳn. Nó thấy mình lạ lùng tê dại. Như từ một khoảng cách rất xa, nó biết mình đang bị đánh. Những cảm giác đau đớn cuối cùng rời khỏi nó. Nó không còn cảm thấy gì nữa, dù vẫn còn nghe rất mờ tiếng gậy nện xuống thân mình. Nhưng dường như đó không còn là thân thể của nó nữa, nó xa xôi quá.
Rồi bất ngờ, không báo trước, bật lên một tiếng kêu không rõ chữ và còn giống tiếng kêu của thú vật hơn, John Thornton lao vào gã đang cầm gậy. Hal bị hất ngược ra sau, như thể bị một thân cây đổ quật vào. Mercedes hét toáng. Charles nhìn theo với vẻ tiếc nuối, lấy tay lau đôi mắt ướt, nhưng không đứng dậy vì cứng khớp.
John Thornton đứng chồm trên Buck, cố ghìm mình lại, vì cơn giận co giật dữ dội khiến ông không thể nói. “Nếu anh còn đánh con chó đó thêm lần nữa, tôi sẽ giết anh,” cuối cùng ông cũng nói được trong giọng nghẹn lại.
“Đó là chó của tôi,” Hal đáp, vừa quay lại vừa quệt máu ở miệng. “Tránh đường ra, không tôi cho ông biết tay. Tôi phải đi Dawson.”
Thornton đứng chắn giữa hắn và Buck, và chẳng có ý định tránh sang. Hal rút con dao săn dài. Mercedes hét, khóc, cười, và bộc lộ toàn bộ sự buông xuôi hỗn loạn của cơn cuồng loạn. Thornton gõ vào đốt ngón tay Hal bằng cán rìu, làm con dao rơi xuống đất. Ông lại gõ vào ngón tay hắn lần nữa khi hắn cúi xuống nhặt nó lên. Rồi ông cúi xuống, tự mình nhặt con dao, và chỉ hai nhát đã cắt đứt dây kéo của Buck.
Hal chẳng còn sức để đánh nữa. Hơn nữa, tay hắn đang bận với em gái, hay đúng hơn là hai cánh tay; trong khi Buck thì gần chết đến nỗi không còn ích gì cho việc kéo xe nữa. Vài phút sau, họ rời khỏi bờ sông và đi xuôi xuống dòng. Buck nghe họ đi và ngẩng đầu nhìn, Pike đang đi đầu, Sol-leks ở vị trí bánh xe, và ở giữa là Joe cùng Teek. Chúng đều khập khiễng và loạng choạng. Mercedes đang ngồi trên xe trượt chở đầy hàng. Hal lái ở cây cần lái, còn Charles lê bước phía sau.
Khi Buck nhìn theo, Thornton quỳ xuống bên nó và dùng đôi bàn tay thô ráp nhưng tử tế rà tìm xương gãy. Đến lúc việc rà tìm ấy chỉ phát hiện ra vài chỗ bầm tím và trạng thái đói khủng khiếp, chiếc xe đã cách xa một phần tư dặm. Chó và người nhìn nó bò lê qua mặt băng. Bỗng họ thấy phần đuôi của nó sụp xuống như bị rơi vào một ổ trũng, và cây cần lái, với Hal bám chặt vào đó, bật hất lên không trung. Tiếng hét của Mercedes bay tới tai họ. Họ thấy Charles quay người và bước một bước định chạy ngược lại, rồi cả một mảng băng sụp hẳn, và chó lẫn người biến mất. Chỉ còn một cái hố ngoác toang. Nền đường mòn đã sụp mất rồi.
John Thornton và Buck nhìn nhau.
“Anh tội nghiệp,” John Thornton nói, và Buck liếm tay ông.
Ủng hộ nhóm dịch
Mỗi đồng ủng hộ giúp nhóm dịch duy trì và ra chương đều hơn 💛
Bank